Menu

BÀI VIẾT MỚI

Riland

Jasic

MÁY TIG RILAND

?
?

Máy cắt plasma Jasic

Máy cắt plasma Riland

Recent Posts

Phương pháp hàn hồ quang chìm

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019 / 0 bình luận
Phương pháp hàn hồ quang chìm là quá trình hàn nóng chảy mà hồ quang cháy giữa dây hàn và vật hàn một lớp thuốc bảo vệ. Dưới tác dụng nhiệt hàn hồ quang chìm có cấu tạo đặc biệt với tốc độ cháy của nó theo độ chuyển dịch kim loại hàn sẽ nguội và kết tinh tạo thành mối hàn. Thuốc hàn nóng chảy tạo thành xi lỏng bảo vệ hồ quang và kim loại lỏng chảy thành mối hàn. Phù hợp với các công việc cần đến mối hàn dày và đường hàn dài, yêu cầu chất lượng mối hàn cao như hàn bể chứa, công nghiệp đóng tàu...
Máy hàn hồ quang chìm 600 Pana
Máy hàn hồ quang chìm 600 Pana
Ưu điểm hàn hồ quang chìm
- Tốc độ đắp cao và dây hàn được tận dụng cao
- Chất lượng mối hàn cao và đồng đều
- Mối hàn mịn không bị bắn tóe
- Độ ngấu sâu
- Không bị lóe hồ quang, ít sinh khói nên hạn chế ảnh hưởng tới sức khỏe của người thợ
- Khả năng ứng dụng và thực hiện dễ dàng
- Có thể tạo ra mối hàn có tính chất cơ lý hóa mong muốn
Nhược điểm phương pháp hàn hồ quang chìm
- Thiết bị hàn phức tạp và đắt tiền
- Không phù hợp với những mối hàn cong, mối hàn ngắn hoặc là các vị trí cần hàn leo hàn trần
- Gá lắp mối hàn phải đạt chính xác
- Chất lượng kim loại mối hàn phụ thuộc vào thành phần hóa học của kim loại cơ bản với điều kiện hàn
Ảnh hưởng của điện cực hàn hồ quang chìm
Kích thước điện cực nó ảnh hưởng tới hình dáng của mối hàn và chiều sâu ở cường độ dòng nhất định. Bề rộng của mối hàn hồ quang chìm quá hẹp sẽ tạo mối hàn nguội không đồng đều, dễ gây bị nứt trong mối hàn. Ngược lại nếu như bề mặt quá lớn thì sẽ gây nứt trên bề mặt mối hàn. DE lớn có khả năng lấp khe hở hàn tốt hơn DE nhỏ. DE lớn có thể hàn ở cường độ dòng điện cao hơn, mối hàn ngấu sâu hơn thích hợp cho việc hàn thép tấm dày.
Tác dụng của điện áp hàn hồ quang chìm
Điện áp hàn hồ quang chìm có ảnh hưởng đến chiều dài của hồ quang giữa đầu mút điện cực và vũng kim loại nóng chảy. Nếu như điện áp cao thì chiều dài hồ quang sẽ lớn hơn ngược lại điện áp thấp thì chiều dài ngắn. Điện áp không những ảnh hưởng đến điện cực mà nó còn tác động đến hình dáng và tiết diện ngang của mối hàn.
- Bề mặt mối hàn hồ quang chìm phẳng và rộng hơn
- Mức tiêu thụ thuốc hàn tăng
- Có khả năng giảm khuyết tật rỗ do dầu mỡ kim loại gây ra
- Hàn được liên kết có khe hở chân mối hàn lớn
- Tăng khả năng luyện kim giúp thuốc hàn đi vào mối hàn với tỉ lệ cao hơn.
( Nguồn: Trung tâm thiết bị)

Hàn TIG tự động bộ nạp kiểu nóng

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019 / 0 bình luận
Hàn Tig tự động với bộ nạp kiểu nóng (Hot wire GTAW) có tiềm năng để trở thành một phương pháp hàn chủ đạo được sử dụng trong các ngành công nghiệp yêu cầu chất lượng và năng suất mối hàn. Mặc dù công nghệ hàn Tig có tốc độ đắp nhỏ hơn nhiều so với hàn Mig, nhưng chất lượng mối hàn thì lại vượt trội hơn rất nhiều. Khi sử dụng bộ nạp kiểu nóng vào hàn Tig tự động đặc biệt với các vị trí hàn trên mặt phẳng hoặc ống lớn thì tốc độ đắp của hàn Tig tự động gần tương đương với hàn Mig. Hàn Tig tự động với bộ nạp kiểu nóng với các rãnh hẹp được sử dụng rộng rãi khi hàn các hợp kim Nikel, các thép hợp kim cũng như là với các kim loại hoạt tính như là Titanium. Thiết bị hàn Tig bộ nạp kiểu nóng đang ngày càng được sử dụng nhiều trong các ngành sản xuất hệ thống chứa khí, dầu, các thiết bị trong ngành năng lượng hạt nhân.
Giới thiệu.
Mặc dù hàn Tig tự động với bộ nạp kiểu nóng đã được giới thiệu từ những năm 1966 nhưng việc phát triển và ứng dụng diễn ra rất chậm. Tuy nhiên gần đây mọi người bắt đầu quan tâm lại công nghệ này với đặc điểm nổi trội là hàn với tốc độ của Mig và chất lượng của Tig. Măc dù vẫn còn một vài giới hạn, công nghệ này đang được sử dụng ngày càng nhiều trong các lĩnh vực xây dựng. Sự phát triển của công nghệ hàn tự động, đặc biệt là các thiết bị cấp dây kiểu nóng đã thúc đẩy ứng dụng của chúng trong các ngành công nghiệp như điện hạt nhân, phát điện, bể áp lực, dầu khí ngoài khơi, tại những nơi yêu cầu năng suất hàn cao và chất lượng hàn đặc biêt.
Định nghĩa hàn TIG tự động với bộ cấp dây nóng:
Hàn Tig tự động với bộ nạp kiểu nóng là một bước phát triển của Hàn Tig. Hàn Tig được Russell Meredith làm việc tại công ty máy bay Northrop Aircraft sáng chế ra vào năm 1939-1941. Hàn Tig ban đầu được gọi là hồ quang Heli, sử dụng hồ quang tạo ra bởi điện cực làm nóng chảy kim loại nền và bảo vệ bởi khí Heli. Bằng sáng chế đã được bán cho công ty Union Carbide, công ty này đã phát triển các dòng sản phẩm và bán ra dưới tên Heliarc. Sau đó Union Carbide đã cải tiến thiết bị sang sử dụng khí Argon - loại khí phổ biến và rẻ hơn Heli. Công nghệ hàn TIG tự động với bộ nạp nóng được phát minh ra vào năm 1964 bởi A.F. Manz và phát triển bởi Linde Division của Union Carbide. Trong hàn TIG kim loại bù dưới dạng dây được đưa vào vũng hàn khi hàn các chi tiết dày. Trong hàn TIG truyền thống kim loại bù được cung cấp dưới dạng nguội, do đó hồ quang hàn sinh ra phải cung cấp nhiệt để làm nóng chảy kim loại bù này khiến cho hiệu quả của quá trình hàn, giảm tốc độ đắp. Trong quá trình hàn TIG tự động với bộ nạp nóng, dây điện trở nung nóng liên tục cho dây kim loại bù được đưa vào vũng chảy. Quá trình nạp có thể thực hiện thông qua mỏ hàn với khí trơ bảo vệ để tránh sự oxy hóa. Sự nung nóng chỉ bắt đầu sau khi kim loại hàn tiếp xúc với vũng chảy. Dòng điện được điều chỉnh sao cho kim loại hàn đạt được nhiệt độ nóng chảy khi tiếp xúc với vũng hàn. Do đó, kim loại hàn sẽ nóng chảy độc lập với nhiệt độ hồ quang. Điều này sẽ giúp cho hồ quang hàn được tập trung và không phải cấp nhiệt làm nóng chảy kim loại bù, nên tốc độ hàn sẽ nhanh gấp nhiều lần so với hàn TIG thông thường. Tốc độ đắp của phương pháp hàn TIG tự động với bộ nạp nóng cao tương tự như hàn MIG, chất lượng hàn đạt được như hàn TIG thậm chí trong một số trường hợp còn nhỉnh hơn.
Hàn TIG tự động bộ nạp kiểu nóng
Hàn TIG tự động bộ nạp kiểu nóng
Hình trên là sơ đồ nguyên lý của hệ thống hàn TIG tự động với bộ nạp nóng. Hệ thống này sử dụng một lúc 2 nguồn cấp khác nhau. Một nguồn cấp cho đầu hàn TIG, một nguồn cấp cho bộ nạp nóng.
Ưu điểm của phương pháp hàn TIG với bộ nạp nóng
Các ưu điểm của phương pháp hàn TIG tự động với bộ nạp dây nóng dễ dàng được nhận thấy trong quá trình hàn. Phương pháp này dễ dàng được cơ giới hóa, tự động hóa và tăng tốc độ đắp. Việc điều chỉnh độc lập hồ quang, tốc độ cấp dây cho phép linh hoạt điều chỉnh các thông số. Các kỹ năng yêu cầu đối với người thợ vận hành gần như giống với hàn TIG do đó giảm thiểu được chi phí đào tạo.
Phương pháp hàn tig tự động với bộ nạp nóng cũng áp dụng được đối với gần như tất cả các kim loại. Tương tự như hàn TIG đặc tính kim loại hàn hoàn toàn có thể được điều chỉnh phụ thuộc vào đặc điểm của kim loại bù. Quá trình hàn TIG tự động bộ nạp nóng thường đem lại kết quả của mối hàn rất sạch làm giảm hoặc loại bỏ khả năng hình thành rỗ xốp trong mối hàn. Phương pháp hàn này có thể đáp ứng hàn hơn 300 loại thép không gỉ khác nhau, các hợp kim nickel, titan, thép gia công....
Giới hạn của phương pháp hàn TIG tự động với bộ nạp nóng
Phương pháp hàn này thường không thao tác bằng tay. Phương pháp cũng đòi hỏi phải đầu tư thêm các thiết bị như là bộ nạp dây nóng. Bộ thiết bị hàn không có tính cơ động do đó chỉ được sử dụng cố định tại xưởng sản xuất. Các rãnh hàn cũng phải được gia công lại cho phù hợp. Phương pháp này cũng đòi hỏi thêm các chi phí thay thế béc hàn, béc cấp dây nóng. Lượng khí cấp thường là nhiều hơn hàn TIG thông thường. Phương pháp cũng đòi hỏi một chi phí đào tạo.
(Nguồn: congnghehan.vn)

Vì sao kỹ thuật hàn 6G dù khó vẫn hấp dẫn người học nghề?

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019 / 0 bình luận
Ở Việt Nam, nếu nói hàn 6G là công nghệ mới là không chính xác vì năm 1998, trong quá trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Phả Lại và nhà máy điện đạm Phú Mỹ đã có sử dụng công nghệ hàn TIG và hàn điện.
Tuy vậy, hiện nay công nghệ hàn 6G vẫn là ngành hàn công nghệ cao. Và vì là hàn công nghệ cao nên chưa bao giờ cung cấp đủ lao động lành nghề cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu lao động.
Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Hàn Hoa Kỳ (American Welding Society – AWS), hàn 6G là tư thế hàn trục ống nằm nghiêng 45 độ so với mặt phẳng nằm ngang và ống cố định (không quay) trong khi hàn. Vị trí hàn 6G là tư thế hàn khó, trước khi “chinh phục” 6G đòi hỏi người học phải thành thạo các kỹ năng, kỹ thuật vị trí hàn thép tấm từ 1G – 4G và hàn ống từ vị trí 1G, 2G, 5G. Đặc biệt là kỹ năng hàn ống ở vị trí hàn 6G với  khả năng hàn hai tay là việc không phải thợ hàn nào cũng làm được.
Kỹ thuật hàn 6G
Kỹ thuật hàn 6G
Vì sao công nghệ hàn 6G lại được xem là khó?
Khi hàn trục ống nằm nghiêng 45 độ, (do trọng lực) và hướng nghiêng của vật liệu người thợ hàn phải kiểm soát được dòng chảy của kim loại theo hướng thẳng đứng. Bạn có thể tìm thấy các trục ống nằm nghiêng và không quay trong khi hàn ở các công trình nhiệt điện, dầu khí, chân đế giàn khoan, ống công nghệ… Đặc điểm của các công trình trên là thường xuyên chịu áp lực cao nên không thể dùng các phương pháp hàn phổ thông.
Thực tế đôi khi không chỉ có vật liệu nằm nghiêng mà còn có cả mặt bích (vách chắn ngay tại điểm hàn), độ khó của thao tác hàn cao hơn và hàn 6G được nâng lên thành 6GR. Chính vì thế, một người thợ hàn có trình độ hàn 6G có thể được xem là “ông vua của kỹ thuật hàn”.
Học phí cao nhưng người học vẫn đổ xô đi học
Dù học phí rất cao bởi vì tất cả các vật tư tiêu hao sắt thép, que hàn đều phải nhập khẩu tuy nhiên các trung tâm đào tạo hàn 6G vẫn rất đông học viên theo học.
Các trung tâm đào tạo nghề hàn cho biết không chỉ do nguyên liệu (ống thép) để thực hành có giá thành không hề rẻ, mà còn phụ thuộc trình độ tay nghề giáo viên, chuyên gia hàn quốc tế và trang thiết bị phục vụ việc học, thực hành nên học phí cho kỹ thuật hàn 6G thường rất cao. Đây là lý do chính khiến không phải trung tâm hay trường dạy nghề nào cũng có thể đào tạo những thợ hàn có mối hàn theo tiêu chuẩn quốc tế. Chính vì thế, theo nhận định của nhiều chuyên gia Hàn, xuất khẩu lao động, hiện thợ hàn có khả năng hàn theo công nghệ 6G đang rất khan hiếm.
Cũng theo các trung tâm dạy nghề, với chi phí  học hàn cao trong vòng 3-5 tháng học nhưng khi ra trường học viên có thể đi làm lương từ 15 triệu đến 25 triệu, làm việc tại trong nước hoặc đi xuất khẩu lao động.
Chính kỹ thuật, tay nghề đi kèm với mức lương tương xứng đã khiến người học nghề không ngại đầu tư lớn cho tương lai. Theo tìm hiểu, lương tối thiểu của thợ hàn 6G hiện nay là 500.000 đồng /ngày (8 giờ) tại một số công trình trong nước như dự án khí điện đạm Bắc Giang, Nhà máy nhiệt điện Mông Dương, Nhiệt Điện Ô Môn 2, Nhiệt Điện Thái Bình, Nhiệt Điện Trà Vinh, Nhiệt Điện Vũng Án, Nhà máy lọc dầu Nghi sơn… và số thợ hàn 6G có mức lương 15 triệu đồng/tháng không phải là hiếm. Nếu đi xuất khẩu lao động (đến ẢRập, Đubai, Malaisia, Đài Loan, Quatar, Nhật Bản…) những học viên có chứng chỉ hàn 6G cũng có quyền đòi hỏi mức lương phải không dưới 800 USD/ tháng.

(Nguồn: Hồng Ký)

Phương pháp kiểm tra chất lượng hàn

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019 / 0 bình luận
Trong sản xuất hàn, khâu kiểm tra không nhất thiết phải là khâu cuối cùng. Nhiều khi nguyên công kiểm tra chất lượng hàn được tiến hành xen kẽ giữa các bước. Mặt khác các khuyết tật hàn như đã giới thiệu, rất đa dạng và phức tạp. Việc tiến hành kiểm tra cần phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau- riêng rẽ hoặc phối hợp.
Dựa vào tác động đến vật liệu hay sản phẩm hàn người ta chia các phương pháp kiểm tra làm hai nhóm: các phương pháp kiểm tra bằng phá hủy (KTPH) và các phương pháp kiểm tra không phá hủy (KTKPH, gọi theo tiếng Anh Non-Destructive Testing)
Phương pháp kiểm tra chất lượng hàn
Phương pháp kiểm tra chất lượng hàn
1. Các phương pháp phá hủy
Thử nghiệm phá hủy thường được tiến hành trên mẫu đối chứng, trên mô hình và đôi khi trên chính sản phẩm. Mẫu đối chứng được hàn theo công nghệ và vật liệu đúng theo liên kết hàn. Theo lệ thường, các thử nghiệm cho phép nhận được các số liệu đặc trưng của độ bền, chất lượng và độ tin cậy của liên kết. Nếu hàn và thử phá hủy mẫu trong phòng thí nghiệm thì những thử nghiệm này đặc trưng cho chất lượng các mẫu không có khuyết tật sản xuất. Người ta thử nghiệm cơ tính kim loại và liên kết hàn bằng kéo, uốn, va đập… Theo đặc trưng tải trọng tiến hành thử tĩnh, động và mỏi.
Các phương pháp thử nghiệm “không mẫu” như kiểm tra độ cứng, phân tích kim tương, phân tích hóa học, kiểm tra ăn mòn cũng được xếp vào nhóm này.
2. Các phương pháp không phá hủy
2.1. Định nghĩa:
Kiểm tra không phá hủy (KTKPH) là sử dụng các phương pháp vật lý để phát hiện các khuyết tật bên trong cấu trúc vật liệu, chi tiết, sản phẩm… mà không làm tổn hại đến khả năng hoạt động, chịu tải sau này của chúng. KTKPH liên quan đến việc phát hiện khuyết tật trong vật kiểm nhưng tự bản thân nó không thể dự đoán những nơi nào khuyết tật sẽ hình thành và phát triển.
2.2. Đặc điểm
-  Các phương pháp KTKPH có đặc điểm chung: Sử dụng một môi trường để kiểm tra sản phẩm
-  Sự thay đổi trong môi trường kiểm tra chứng tỏ trong vật kiểm tồn tại bất liên tục.
-  Là phương tiện để phát hiện sự thay đổi trong môi trường kiểm tra.
- Giải đoán những thay đổi để nhận biết các thông tin về khuyết tật trong vật kiểm.
2.3. Phân loại
Theo tiêu chí nhiệt động lực có thể chia các phương pháp vật lý kiểm tra khuyết tật không phá hủy làm hai nhóm: (i) các phương pháp liên quan đến việc sử dụng truyền năng lượng; (ii) các phương pháp sử dụng chuyển động của vật chất.
Tiếp theo các phương pháp KTKPH được chia nhỏ ra: (i) phát âm; (ii) thấm mao dẫn; (iii) từ tính; (iv) quang học; (v) phóng xạ; (vi) vi sóng; (vii) nhiệt; (viii) rò rỉ; (ix) điện; (x) điện từ; (xi) toàn hình ảnh laser; (xii) động lực…
Ngoài ra theo đặc tính của trường vật lý hoặc khối chất chuyển động tác động tương hỗ với vật kiểm tra có thể chia các dạng KTKPH theo các dấu hiệu sau:
- Theo đặc trưng tác động tương hỗ của trường vật lý hoặc vật chất với vật kiểm, ví dụ các phương pháp phát ra và phản xạ đối với sóng âm, sóng ánh sáng, sóng bức xạ, sóng vô tuyến, sóng nhiệt; phương pháp cảm ứng đối với dạng kiểm tra từ tính…
- Theo các thông số thông tin sơ bộ, ví dụ: biên độ và pha đối với dạng âm và điện từ, màu và huỳnh quang đối với dạng thấm mao dẫn và với kiểm tra rò rỉ.
- Theo khả năng chỉ thị thông tin sơ bộ (áp điện, cảm ứng, hóa học…)
- Theo khả năng thể hiện thông tin cuối cùng (nhìn thấy, đồ thị, ảnh tia X, âm thanh, ánh sáng,…)
Rõ ràng rằng cách phân loại duy nhất theo dấu hiệu cho tất cả các dạng kiểm tra trên là không thể. Trong kiểm tra chất lượng mối hàn chỉ sử dụng một số phương pháp kể trên.
3. Thử nghiệm phá hủy và thử nghiệm không phá hủy
Để kiểm tra chất lượng liên kết mối hàn có thể sử dụng các phương pháp đã nêu trên. Tuy nhiên không có phương pháp nào có thể giúp người kiểm tra phát hiện được tất cả các khuyết tật một cách hoàn hảo. Cho nên quan trọng không chỉ là chọn đúng phương pháp kiểm tra, mà còn biết kết hợp các phương pháp phá hủy và không phá hủy. Bảng dưới đây trình bày ưu nhược điểm chính của các phương pháp.
(Nguồn: Hồng Ký)

Thực chất và đặc điểm hàn tig

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019 / 0 bình luận
1. Thực chất hàn tig
Hàn TIG là phương pháp hàn nóng chảy sử dụng hồ quang điện, hồ quang được tạo thành giữa điện cực không nóng chảy và vùng hàn. Bể hàn và vùng hồ quang được tạo thành bảo vệ bằng môi trường khí trơ như Argon hoặc Argon + Heli để ngăn cản những tác dụng có hại của ôxy và nitơ trong không khí. Điện cực không nóng chảy thường dùng là Vonfram nên được gọi là phương pháp hàn TIG. (Tungsten Inert Gas)
2. Đặc điểm hàn tig
- Hồ quang tập trung, có nhiệt độ cao (6000 độ C).
- Kim loại mối hàn có thể không cần kim loại phụ khi hàn gấp mép các chi tiết mỏng.
- Mối hàn có chất lượng cao đối với hầu hết kim loại và hợp kim.
- Mối hàn không phải làm sạch sau khi hàn.
- Hồ quang và vũng hàn có thể quan sát được trong khi hàn.
- Không có kim loại bắn tóe
- Có thể hàn ở mọi vị trí trong không gian.
- Nhiệt tập trung cho phép tăng tốc độ hàn, giảm biến dạng liên kết hàn.
3. Phạm vi ứng dụng hàn tig
Được áp dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất đặc biệt rất thích hợp trong hàn thép hợp kim cao kim loại màu và hợp kim nhưng giá thành mối hàn cao vì năng suất thấp và vật liệu đắt.

Nguồn: Hồng Ký

Thực chất và phân loại hàn hồ quang

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018 / 0 bình luận
1. Thực chất: Hàn hồ quang là phương pháp hàn nóng chảy dùng nhiệt của ngọn lửa hồ quang sinh ra giữa các điện cực hàn. Thực chất của hồ quang hàn là dòng chuyển động của các điện tử và ion trong môi trường khí giữa hai điện cực, kèm theo sự phát nhiệt lớn và phát sáng mạnh.
Thực chất và phân loại hàn hồ quang
2. Phân loại:
Phân loại theo dòng điện hàn:
- Hàn bằng dòng điện xoay chiều cho ta mối hàn có chất lượng không cao, khó gây hồ quang và khó hàn song thiết bị hàn dòng xoay chiều đơn giản và rẻ tiền nên trên thực tế hiện có khoảng 80% là máy hàn xoay chiều.
- Hàn bằng dòng điện một chiều tuy máy hàn đắt tiền nhưng dễ gây hồ quang, dễ hàn và chất lượng mối hàn cao.
Phân loại theo điện cực:
-  Điện cực hàn không nóng chảy được chế tạo từ các vật liệu có nhiệt độ nóng chảy cao như grafit, vonfram. Đường kính điện cực dq = 1÷5 mm đối với điện cực vonfram và dq = 6÷12 mm đối với điện cực grafit, chiều dài que hàn thường là 250 mm, đầu vát côn. Điện cực không nóng chảy cho hồ quang hàn ổn định, để bổ sung kim loại cho mối hàn phải sử dụng thêm que hàn phụ.
- Điện cực hàn nóng chảy được chế tạo từ kim loại hoặc hợp kim có thành phần gần với thành phần kim loại vật hàn. Lõi que hàn có đường kính theo lý thuyết dq = 6÷12 mm. Trong thực tế thường dùng dq=1÷6 mm. Chiều dài của que hàn L = 250÷450 mm; chiều dài phần cặp l1 = 30±5 mm; l2< 15mm; l3= 1÷2 mm. Lớp thuốc bọc được chế tạo từ hỗn hợp gồm nhiều loại vật liệu dùng ở dạng bột, sau đó trộn đều với chất dính và bọc ngoài lõi có chiều dày từ 1÷2 mm. Nó có tác dụng:
+ Tăng khả năng ion hóa để dễ gây hồ quang và duy trì hồ quang cháy ổn định.
+ Bảo vệ được mối hàn, tránh sự oxy hoá, hoà tan khí từ môi trường.
+ Tạo xỉ lỏng và đều, che phủ kim loại tốt để giảm tốc độ nguội của mối hàn tránh nứt.
+ Khử ôxy trong quá trình hàn.
Phân loại theo cách đấu các điện cực khi hàn:
Các phương pháp nối các điện cực với nguồn điện hàn
a/ Đấu dây trực tiếp
b/ Đấu dây gián tiếp
c/ Đấu dây 3 pha

Nguồn: Hồng Ký

Hàn chùm tia điện tử

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018 / 0 bình luận
Hàn chùm tia điện tử (Electron beam welding – EBW) là quá trình hàn nóng chảy, sử dụng năng lượng siêu cao của chùm tia điện tử hội tụ ở mật độ lớn để làm nóng chảy mép hàn, sau khi đông đặc ta thu được liên kết hàn.
Nguyên lý tạo chùm tia điện tử
Nguyên lý tạo chùm tia điện tử
Nguyên lý tạo chùm tia điện tử
- Khi hai điện cực chịu một điện áp đủ lớn, sẽ sinh ra một chùm tia điện tử phóng từ cực âm sang cực dương
- Điện áp giữa hai điện cực càng lớn thì tốc độ của chùm tia điện tử càng cao
- Tia điện tử không bị tổn hao năng lượng do di chuyển trong môi trường chân không, vì vậy hội tụ ở mật độ lớn thì năng lượng của chúng cũng sẽ rất lớn, khả năng xuyên thấu của chúng càng cao.
Đặc điểm
Ưu điểm
- Hàn được chiều dày tấm mỏng khoảng: 0,01 mm
- Chiều sâu ngấu đạt được: 200 mm
- Tỷ lệ chiều rộng mối hàn/ chiều sâu ngấu đến 1/40
- Tốc độ hàn khoảng 200 mm/s
- Biến dạng thấp
- Khả năng tạo ra mối ghép khác vật liệu
Nhược điểm
- Phải thao tác trong buồng chân không dẫn đến: giá thành máy đắt, khó thực hiện các đường hàn phức tạp, khó khăn khi hàn các vật hàn lớn
- Sự phát xạ của tia X trong quá trình hàn gây nguy hại cho công nhân
- Làm sạch bề mặt và phải chuẩn bị mép hàn không có khe hở
- Tốc độ nguội nhanh cũng là một yếu điểm của phương pháp hàn này
- Hàn chùm tia điện tử không thể hàn được với các kim loại áp suất hóa hơi cao ở nhiệt độ nóng chảy như hợp kim của kẽm, cadimi, magie và đa số các chất liệu không phải kim loại.
Lịch sử phát triển
- Năm 1958, Steigerwald lần đầu tiên công bố thiết bị hàn chùm tia điện tử. Hàn tia điện tử đã phát triển ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau với sự đa dạng về chủng loại, cấu tạo, kích cỡ, công suất.
(Nguồn: congnghehan.vn)

Tìm hiểu về dòng điện 1 chiều và xoay chiều

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018 / 0 bình luận
Nguồn điện 1 chiều bao gồm các loại pin, ắc quy có chi phí sản xuất cao, công suất nhỏ. Muốn có điện áp cao chỉ có cách tăng khối lượng (kiểu như kiểu nối các cọc pin). 
Nguồn điện 1 chiều vẫn được dùng trong sinh hoạt song do nhiều hạn chế không sử dụng phổ biến. 
Tuy nhiên nó lại rất thuận lợi trong các thiết bị sử dụng công suất nhỏ đòi hỏi tính di động như: đồng hồ, điện thoại, đồ chơi ... 
Một số gia đình cũng sử dụng hệ thống điện từ năng lượng mặt trời trong việc tiết kiệm điện ở một số thành phố. Tuy nhiên do đầu tư ban đầu lớn nên cũng có ít người sử dụng được.
so sánh dòng một chiều và xoay chiều
So sánh dòng một chiều và xoay chiều
Trong khi đó điện xoay chiều có thể được tạo ra từ các nhà máy với công suất lớn. Việc tăng điện áp qua các máy biến áp nhờ khả năng cảm ứng điện từ của dòng xoay chiều với tổn thất rất nhỏ. Việc truyền tải điện với điện áp cao (kiểu tới 500kV) giảm tổn thất điện tối đa. Và đến các hộ tiêu thụ sinh hoạt hạ áp xuống 110-240 V cũng đảm bảo an toàn với chi phí vừa phải và tổn thất vừa phải. 
Việc các thiết bị điện tử như tivi chạy dòng 1 chiều có thể dễ dàng thiết kế phù hợp với linh kiện chỉ cần gồm 1 biến áp, 4 diot, 1 vài tụ điện và điện trở (Cái sạc điện thoại là ví dụ). 
Tóm lại do lợi thế về dễ chế tạo nhà máy công suất lớn. Thuận lợi của việc truyền tải, thay đổi điện áp và dễ dàng chuyển sang dạng 1 chiều khi cần thiết nên dòng xoay chiều được sử dụng rộng rãi. Nó chỉ không thể cạnh tranh trong lĩnh vực công suất nhỏ thiết bị nhỏ mà thôi.

Nguồn: https://vn.answers.yahoo.com

Hàn gấp mép tấm mỏng

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018 / 0 bình luận
1. Giới thiệu.
Hàn gấp mép tấm mỏng bằng phương pháp hàn khí được sử dụng rộng rãi để hàn các chi tiết có chiều dày từ 0,5÷2mm… Có kỹ năng hàn gấp mép giúp cho người học có khả năng áp dụng trong thực tế sản xuất.
2. Mục tiêu:
- Chuẩn bị chi tiết hàn đúng kích thước bản vẽ, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.
- Chuẩn bị được dụng cụ thiết bị hàn đầy đủ, hợp lý.
- Tính chọn được đường kính que hàn, công suất ngọn lửa, vận tốc hàn khi biết loại vật liệu và chiều dày của vật liệu.
- Gá phôi hàn, hàn dính chắc chắn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.
- Chọn phương pháp hàn, góc nghiêng mỏ hàn, phương pháp chuyển động mỏ hàn, chuyển động que hàn, loại ngọn lửa phù hợp với chiều dày và tính chất của vật liệu.
- Hàn được các loại mối hàn gấp mép ở mọi vị trí hàn đảm bảo độ sâu ngấu, không rổ khí, ngậm xỉ, không cháy thủng kim loại, ít biến dạng.
- Kiểm tra, đánh giá đúng chất lượng mối hàn.
- Thực hiện tốt công tác an toàn, phòng chống cháy nổ và vệ sinh công nghiệp
3. Nội dung
3.1. Chuẩn bị mối hàn gấp mép.
Vật liệu:
- Khí axêtylen.
- Khí ôxy.
- Thép tấm (1,6 x 100 x 200)mm: 2 tấm.
- Que hàn Φ1,6.
- Cắt phôi và nắn phẳng.
- Làm sạch cạnh hàn và bề mặt hai tấm phôi.
- Gấp mép phôi:
+ Vạch dấu đường thẳng gấp mép cách đầu của phôi từ (3 ~ 5) mm.
+ Kẹp phần mép gấp vào trong má kẹp êtô sao cho đường vạch dấu gấp trùng với mặt trên của má kẹp êtô.
+ Dùng búa uốn phôi tạo mép gấp như hình vẽ.
Cách tạo mép gấp
Tạo mép gấp
3.2. Chuẩn bị thiết bị dụng cụ hàn.
- Bộ bảo hộ lao động.
- Thiết bị hàn khí.
- Bộ dụng cụ hàn.
- Đồ gá hàn đứng.
4. Tính toán chế độ hàn.
4.1. Góc nghiêng mỏ hàn
- Giữ góc nghiêng của mỏ hàn nghiêng một góc từ 45 P0 P đến 50 P0 P so với hướng ngược với hướng hàn và hướng nhân ngọn lửa vào kẻ hàn.
- Giữ mỏ hàn thẳng với hướng hàn làm với hai bên cạnh hàn một góc 90 P0
Góc nghiêng mỏ hàn
Góc nghiêng mỏ hàn
4.2. Chuyển động mỏ hàn
Chuyển động mỏ hàn và que hàn ảnh hưởng rất lớn đến sự tạo thành mối hàn căn cứ vào vị trí mối hàn trong không gian, bề dày vật hàn yêu cầu kích thước mối hàn để chọn chuyển động mỏ hàn và que hàn hợp lý.
Với hàn gấp mép ta chuyển động mỏ hàn theo hình đường thẳng. Khi vũng hàn quá nhiệt thì kéo nhân ngọn lửa ra xa vũng hàn, đợi cho nhiệt độ vũng hàn giảm lại tiếp tục hàn.
5. Gá phôi hàn
Hàn đính.
- Điều chỉnh áp suất khí oxi ở mức 1,5 kg/cm3 P và khí axêtylen ở mức 0,25 kg/cm3 P.
- Sử dụng béc hàn số 70.
- Mở van khí, mồi lửa và điều chỉnh để được ngọn lửa trung tính với chiều dài nhân ngọn lửa từ (5 ~ 6) mm
- Đặt hai tấm phôi lên mặt phẳng, điều chỉnh cho hai phôi sát nhau (không có khe hở), Điều chỉnh mép gấp đều nhau, kẹp chặt phần mép gấp bằng kìm chết gần với vị trí dính.
- Khoảng cách các mối đính từ (30 ~ 50) mm
Nguồn: mayhancaocap.com

Phân loại phương pháp hàn

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018 / 0 bình luận
Khoảng đầu thời đại đồ đá, đồ đồng con người đó biết hàn kim loại như hàn đồng, hàn thiết v.v… nhưng đến đầu thế kỷ 20 trở lại đây ngành hàn mới phát triển và đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai hàn tiếp xúc mới phát triển mạnh mẽ và xuất hiện nhiều phương pháp hàn mới.
Tên và định nghĩa các phương pháp hàn
1. Hàn
Phương pháp nối các phần tử thành một khối liên kết không thể tháo rời bằng cách nung nóng chỗ nối đến trạng thái chảy hoặc dẻo, sau đó kim loại hóa rắn (hoặc chịu tác dụng lực) cho mối hàn.
2. Hàn đắp
Phủ lên bề mặt của chi tiết một lớp kim loại.
3. Hàn chảy
Phương pháp hàn mà tại chỗ hàn kim loại được làm chảy để nối các phần tử liên kết.
4. Hàn hồ quang bằng que hàn
Sử dụng nhiệt hồ quang để làm chảy kim loại phụ (điện cực nóng chảy – que hàn) và một phần kim loại cơ bản.
5. Hàn hồ quang hở
Hàn hồ quang với điện cực nóng chảy có khí bảo vệ hàn, khi đó vùng hồ quang nhì thấy được.
6. Hàn hồ quang điện cực không nóng chảy
Phương pháp hàn hồ quang, nhưng điện cực là loại không nóng chảy (như điện cực vônfram). Điện cực này có tác dụng để gây hồ quang và duy trì sự cháy của hồ quang trong quá trình hành.
7. Hàn dưới lớp thuốc
Phương pháp hàn hồ quang mà hồ quang cháy trong lớp thuốc hàn (không nhìn thấy hồ quang – gọi là hồ quang kín).
8. Hàn hồ quang trong môi trường khí bảo vệ
Phương pháp hàn hồ quang mà hồ quang cháy trong vùng khí bảo vệ (như khí argon) được đưa vào.
9. Hàn hồ quang argon
Hàn hồ quang trong môi trường khí bảo vệ là argon (TIG; MIG).
10. Hàn trong khí CO2
Hàn hồ quang trong môi trường khí bảo vệ là CO2 – (MAG).
11. Hàn hồ quang tự động
Hàn hồ quang mà trong đó chuyển động của dây hàn (điện cực) và hồ quang hàn (được duy trì và dịch chuyển) được thực hiện bằng máy.
12. Hàn hai hồ quang
Phương pháp hàn hồ quang tự động, thực hiện đồng thời hai hồ quang bằng hai nguồn và dòng hàn riêng.
13. Hàn nhiều hồ quang
Phương pháp hàn hồ quang tự động, thực hiện đồng thời nhiều hồ quang (hơn 2) với nguồn hàn và dòng hàn riêng.
14. Hàn hai điện cực
Phương pháp hàn hồ quang tự động, thực hiện đồng thời hai điện cực hàn với dòng hàn truyền dẫn chung
15. Hàn hồ quang tay
Phương pháp hàn hồ quang có điện cực là que hàn. Trong quá trình hàn các chuyển động như gây hồ quang, dịch chuyển que, dịch chuyển hồ quang theo dọc mối hàn được thực hiện bằng tay
Các phương pháp hàn ngày càng được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế, trong kỹ thuật quốc phòng và đặc biệt là trong ngành điện tử, du hành vũ trụ.
Hiện nay đã có hơn 120 phương pháp hàn khác nhau và có nhiều phương pháp hiện đại như hàn bằng xe, bằng chùm tia điện tử, hàn bằng súng siêu âm, v.v…
Người ta đó áp dụng cơ khí hoá và tự động hoá trong quá trình hàn.
Hiện nay có thể hàn được những chi tiết có chiều dày bất kỳ từ những chi tiết rất mỏng đến rất dày mà vẫn đảm bảo chất lượng mối lắp ghép.
Hàn đã và đang được ứng dụng trong nhiều ngành khác nhau. Một toa tàu điện ngầm hoặc một toa tàu hoả tổng số mối hàn dài gần 4 km. Trong ngành chế tạo tên lửa, máy bay phản lực, tàu vũ trụ, tàu thuỷ, máy móc thiết bị, những công trình xây dựng, dụng cụ, sản phẩm phục vụ đời sống hàng ngày v.v… đều có ứng dụng phương pháp hàn.
 Nguồn: Winer